Bơi trườn sấp


WWW.DAYBOI24H.NET


HOTLINE: 0979010821
Kỹ thuật bơi trườn sấp



I. Khái niệm.


Bơi Trườn sấp là bơi ở tư thế nằm sấp ngang bằng trên mặt nước; hai chân luân phiên đập nước lên xuống, hai tay luân phiên quạt nước làm cho cơ thể trườn đi ở trong nước.


*/ Đặc điểm KT bơi TS: Là kiểu bơi có tốc độ nhanh nhất, vì vậy trong bơi cự ly tự do VĐV thường sử dụng kiểu bơi này. Trong KT bơi TS hiện đại có tư thế thân người ngang bằng và cao, quạt nước nâng khuỷu tay và đường quạt nước cong, động tác thở muộn.


II. Lịch sử phát triển kiểu bơi TS.


- Bơi TS có từ lâu đời,được thể hiện qua các di vật cổ và thông qua lao động sản xuất để bão tồn sự sống và tìm kiếm thức ăn,vì vậy khi vận động trong nước có những động tác gần giống với kiểu bơi trườn sấp hiện nay.


- Sau nội dung thi đấu của kiểu bơi ếch thí bắt đầu xuất hiện 1 kiểu bơi nghiêng. Và sau đó cải tiến thêm 1 bước để tăng tốc thì người ta tiến hành quạt nước bằng hai tay luân phiên và từ đó kiểu bơi trườn sấp ra đời. Đầu tiên kt chân lẫn lộn kt chân ếch cho đến khoảng đầu nhưng năm đầu của thế kỉ 20 thì các VDV đã sử dụng lối đập chân luân phiên lên xuống. Cho tới 1992 thì VDV Mỹ đầu tiên đã thưc hiện. Kĩ thuật bơi trườn sấp hiện đại và từ đó đã mở ra một thời kì mới cho kiểu bơi trườn sấp.


III. Phân tích KT bơi TS
1. Tư thế thân người.


- Khi bơi trườn sấp, VĐV cần duy trì tư thế thân người ngang bằng và có hình dáng lướt nước. Trục dọc cơ thể tạo với mặt nước 1 góc khoảng 3-5


- Đầu cúi tự nhiên, hai mắt nhìn về phía trước và hơi chếch ra trước, 1/3 đầu nhô lên khỏi mặt nước. Để đạt được hiệu quả cao cho phép 2 chân có thể chìm hơn đôi chút


- Khi bơi cho phép thân người bơi quay quanh trục dọc cơ thể nhịp nhàng với động tác tay chân. Phạm vi quay trục dọc cơ thể 35-45. Chuyển động quay người quanh trục dọc cơ thể là chuyển động tư nhiên.
2. KT động tác chân.


Có tác dụng duy trì thăng bằng tạo độ nổi của chân ở vị trí gần mặt nước để giảm lực cản và tạo thuận lợi cho động tác phối hợp nhịp nhàng với quạt tay. Động tác đập chân được thực hiện ở mặt trên dưới, khoảng cách giữa hai chân khi dạp chân khoảng 30-40, góc gối khoảng 160, khi đập thì không để bàn chân vượt quá bộ phận thấp nhất của cơ thể ở trong nước (bàn chân không lên khỏi mặt nước). Kĩ thuât đập chân phải phù hợp với đặc điểm cá nhân.


*/ Động tác đập chân xuống (pha hiệu lực)


Bàn chân hơi xoay vào trong cổ chân thả lỏng. Động tác đập chân phải phát lực từ hông, đùi, cẳng chân, cuối cùng đến bàn chân (giống động tác vút roi). Động tác đạp chân tạo ra lực tiến. Vì vậy khi đập chân phải dụng sức mạnh để tạo tốc độ đạp nước nhanh


*/ Động tác hất chân lên (pha chuẩn bị)


Bắt đầu từ động tác nâng đùi lên trên, đùi sẽ kéo theo cẳng chân. Khi khớp cổ chân, khớp gối, khớp hông cùng ngang bằng nhau và song song với mặt nước thì đùi ko nâng lên nữa đồng thời bắt đầu đập xuống


Nói tóm lại: Động tác chân của kiểu bơi trườn sấp là đập chân xuống dưới phải ở tư thế gập gối, đưa chân lên thì gối phải thẳng. Tác dụng của đập chân chủ yếu là duy trì thăng bằng, ổn định cơ thể, tạo ra lưc tiến, hiệu quả đập chân tốt hay xấu sẽ ảnh hưởng tới việc giữ thăng bằng cho cơ thể, chân mau mệt, mông và lưng dẻ bị chìm sâu, cơ thể dể bị lắc ngang, từ đó tạo ra lực cản lớn. Bởi vậy trong giảng dạy và huấn luyện bơi trườn sấp cần phải chú ý huấn luyện kĩ thuật chân. Có 3 kiểu đập chân:


+ Bơi trườn sấp với 6 đập chân


+ Bơi trườn sấp với 2 đập chân bắt chéo


+ Bơi trườn sấp với 2 đập chân thẳng
3. Kĩ thuật động tác tay.



Hơi thẳng hoặc thẳng khi vào nước, rồi co lại đến gần 90 khi kéo nước, sau đó lại gần như thẳng khi đẩy nước đó là lúc tay rút khỏi nước để bất đầu vung tay về phía trước sự thay đổi góc độ ở khớp khuỷu thường kéo theo quỹ đạo chuyển động hình chữ S ngược của tay khi ở trong nước. Điều này làm cho giai đoạn rút ray khỏi nước và vung tay ra trước được dễ dàng hơn. Các chu kỳ tay phụ thuộc vào các dạng là động lực chủ yếu để đẩy cơ thể tiến về phía trước, ta phải luôn coi trọng hiệu quả quạt nước của tay và chú trọng huấn luyện sức mạnh của 2 cánh tay, tần số động tác và tính liên quan của 2 tay. Để tiện cho việc phân tích người ta chia 1 chu kì động tác tay ra làm 5 giai đoạn:


* Vào nước * Đẩy nước


* Tỳ nước *Vung tay trên không


* Kéo nước


Sau khi tỳ nước, về chuyển động cơ học ở vai thì hơi giống như việc leo qua 1 hàng rào cao, ấn xuống hay vượt qua nó, đương nhiên vào lúc đó 1 tay cong lại ở khuỷu để tạo lực ấn mạnh hơn. Thứ tự vào nước là: bàn tay, cẳng tay, cánh tay và sau khi bàn tay vào nước thì bàn tay và cẳng tay tiếp tục vươn ra trước, chếch xuống dưới và vào trong tiếp đó động tác chuyển dần theo 3 hướng-ra trước, xuống dưới và ra ngoài- lực sẽ trực tiếp qua cánh tay, cẳng tay va phần trên của tay với sức mạnh được tăng lên thông qua cách quạt tay va có cảm giác tăng tốc ở giai đoạn kết thúc của động tác tay ngay trước khi thực hiện rút tay lên trên và vung tay về phía trước. Đó là sự chuyển các hoạt động của cơ bắp từ kéo sang đẩy để cơ chuyển động trên cánh tay. Khớp khuỷu có sư thay đổi độ gấp từ gần đập chân, điều này tác động tới thời điểm hoặc nhịp điệu của kiểu bơi (tiết tấu của sự phối hợp động tác)


4. KT phối hợp tay và thở



Thở trong bơi trườn sấp được thực hiện trong nước bằng mũi miệng. Hít vào thực hiện trên nước bằng miệng


Kĩ thuật thở : Có liên quan mật thiết với trình độ huấn luyện, thở sâu, nhịp nhàng hợp lý sẽ nâng cao được sức tốc độ, sức bền tốc độ. Thường thì 1 chu kì động tác 2 tay có 1 chu kỳ thở bao gồm hít vào, nín thở và thở ra. Lợi dụng hõm sóng đó quay mặt ra nhanh để hít vào. Dùng cơ hoành, cơ gian sườn để thở. Động tác thở không làm ảnh hưởng đến tư thế thân người và nhịp điệu động tác tay, chỉ quay cổ ko nên ngẩng cao đầu, không nên lắc đầu để thở quá mạnh vì khi đó làm thân người lắc ngang. Khi thở đều có giai đoan nín thở vì có thể làm hấp thụ Oxy nhiều hơn, sức mạnh động tác tay tăng, cơ hô hấp được hồi phục (nên nín thở ngắn)


- Kĩ thuật phối hợp 2 tay với thở


Tayphải vào nước, thở dần ra bằng mồm và mũi, tiếp đó tăng dần tốc độ thở ra, lúc này tay phải quạt đến ngang vai thì quay đầu sang phải. Khi tay phải quạt nước sắp kết thúc thì thở ra gấp hơn. Khi tay phải rút khỏi nước thì quay đầu hít vào, khi vung tay đến cạnh thân người thì quay đầu về vị trí cũ. Thông thường với mỗi chu kì quạt tay thì thở 1 lần. Khi thở không dùng sức quá lớn cần phối hợp chặt chẽ giữa thở ra và phối hợp quạt tay. Nhịp thở vừa phải, không thở quá sâu và cũng không thở quá nông vì làm thế cơ thể sẽ chóng mệt phổi mau chóng thiếu Oxy.


5. Phối hợp hoàn chỉnh KT.


Là sự đồng bộ trong phối hợp, tạo ra sự thống nhất và cộng hưởng trong những phần hiệu lực, trong đó lấy tay là động lực chính đẩy cơ thể tiến về phía trước. Vì vậy đầu. cột sống, chân, đùi phải góp sức và hỗ trợ cho tay. Tất cả phải phối hợp nhịp nhàng, đều đặn và có tinh thần sảng khoái mới có thể tập luyện tốt, đạt thành tích cao
2